NHỮNG MẶT TRÁI CỦA INTERNET

Internet là một lĩnh vực công nghệ hết sức non trẻ, liên mạng điện tử này ra đời năm 1969, đến năm 1995 được thương mại hóa trên quy mô quốc tế (tại Việt Nam, Internet chính thức được thương mại hóa từ năm 1997). Tuy non trẻ nhưng Internet đã có bước phát triển thần kỳ (chỉ tính từ năm 2000 đến 2010, lượng người sử dụng internet ở Việt Nam đã tăng 3000 lần!), làm nên cuộc cách mạng về khoa học – công nghệ, thay đổi thế giới.
Bên cạnh những lợi ích to lớn, Internet cũng bộc lộ những hạn chế như sau:

1. Về Quản lý, kiểm soát:
Khó khăn cho cơ quan quản lý trong việc kiểm soát nội dung thông tin, nhất là các thông tin độc hại.
Hầu như bất kỳ ai cũng có khả năng tự xuất bản thông tin, trang bị thiết bị công nghệ cao và sử dụng internet như một môi trường truyền bá, tấn công… Vì vậy, những tác hại trên như những mầm nấm độc, được môi trường Internet ủ dưỡng nên có độ lan tỏa ghê gớm, gây hiệu ứng đám đông khó lường.
Chỉ xin nêu một ví dụ về khó khăn trong quản lý:
Khi muốn chặn một trang web “xấu”, cơ quan quản lý áp dụng các biện pháp về hành chính và kỹ thuật như: cấm truy cập, lập “tường lửa”, chặn tên miền, chặn Ip,… nhưng người đọc có thể lén truy cập và có cách vượt tường lửa, chủ trang có thể thay đổi tên miền, thay đổi máy chủ và Ip hoặc sử dụng các biện pháp khác mà có người đã liên tưởng đến con rắn ma: bị chặt đầu này lại mọc đầu khác!
Một ảnh hưởng tiêu cực nữa về quản lý vĩ mô là: nguy cơ xâm lăng văn hóa và áp đặt thông tin. Thời nay, ai làm chủ thông tin, làm chủ công nghệ thì sẽ có được “quyền lực” trong việc dẫn dắt, thao túng dư luận, lôi kéo công chúng (trong cuốn sách “Thăng trầm quyền lực” của nhà Tương lai học hàng đầu thế giới Alvin Toffler cũng chỉ rõ điều này). Những quốc gia làm chủ thông tin và công nghệ có thể truyền bá văn hóa, phong tục, lối sống, ngôn ngữ, quan điểm chính trị, tạo nên các gu thẩm mỹ, thói quen tiêu dùng,… có lợi cho nước mình, nâng cao uy tín của mình và có thể hạ thấp uy tín của đối phương. Đó cũng là một vấn đề cực kỳ quan trọng đối với các nhà quản lý, ở bất kỳ quốc gia nào.

2. Về kỹ thuật:
Phụ thuộc vào thiết bị, công nghệ: Những trang bị tối thiểu cho môi trường Internet là bộ máy tính, phần mềm, đường truyền, điện. Nếu thiếu một trong các yếu tố trên hoặc các yếu tố không được vận hành tốt thì Internet không thể thực hiện được. Ví dụ: Một trường học có nhiều máy tính nhưng có máy mà không dùng, có máy mà hệ điều hành không hoạt động, hệ điều hành hoạt động mà trình duyệt không đáp ứng được, không kết nối được mạng, hoặc kết nối được mạng nhưng mất điện thì Internet cũng không sử dụng được.
Cũng có khi mọi yếu tố kể trên đều đủ nhưng phần mềm cũ, thiết bị lạc hậu, công nghệ không đáp ứng được yêu cầu. Ví dụ: muốn tra cứu thông tin tiếng Việt mà không có bộ gõ tiếng Việt; muốn xem file flash nhưng không có phần mềm Flash player; muốn tra bản đồ, tham gia trò chơi, hoạt động trực tuyến mà không cài Java; muốn xem clip, tv online hoặc các chương trình đồ họa mà máy tính cấu hình thấp hoặc đường truyền dial up thì quả là khó mà đáp ứng các yêu cầu của người sử dụng.

3. Về nội dung:
Mặt trái của tính dễ sửa chữa , áp lực của tính cập nhật, khó khăn trong quản lý… chính là độ tin cậy thông tin trên Interner là không cao. Người ta có xu hướng tin vào báo văn bản “giấy trắng mực đen” chứ không quá tin vào mạng điện tử, nơi mà một thông tin sai được phát hành có thể được sửa lại ngay lập tức mà chưa chắc đã để lại dấu vết, cũng không thể đảm bảo rằng thông tin sai ấy chưa được ai đó tiếp cận và sao lưu.
Cũng vì khó quản lý, kiểm soát nên các thông tin độc hại rất dễ phát tán. Các thông tin “xấu” đó có thể là:
– Thông tin chống phá chế độ, kích động bạo lực, kích động hận thù đặc biệt trong những lĩnh vực nhạy cảm như dân tộc, tôn giáo, tư tưởng cực đoan, phát xít.
– Đồi trụy, dung tục, truyền bá lối sống hưởng lạc ích kỷ, bệnh hoạn.
– Vô bổ, với những tin “lá cải”, rẻ tiền, câu khách, áp đặt gu thẩm mỹ, nhận thức lệch lạc, nghèo nàn, nông cạn.
– Không chính xác, không chỉ sai về chuẩn mực ngôn ngữ mà còn sai về kiến thức, cả những thông tin bịa đặt, lừa đảo, thông tin không được kiểm chứng…
Ví dụ: sử dụng công cụ tìm kiếm Google, những thông tin được hiển thị và nhất là hiển thị đầu tiên không có nghĩa là thông tin đó chuẩn xác và chính thống nhất, nhưng lại có thể là thông tin được truy cập nhiều nhất, không hẳn nhờ nội dung thông tin mà nhờ các yếu tố khác ngoài nội dung như: trang web trình bày bắt mắt, có nhiều ảnh và chủ đề “nóng” để câu khách, có nhiều bình luận “gây sốc”, có nhiều mục giải trí…

4. Về An ninh, an toàn:
Vấn đề an ninh, an toàn vừa liên quan đến công tác quản lý, vừa liên quan đến kỹ thuật. Bao gồm: khả năng harker tấn công “đánh sập” trang web, chiếm quyền điều khiển, lấy cắp mật khẩu, các thông tin bí mật, thông tin cá nhân, xóa dữ liệu. Ví dụ: harker ở Nga đột nhập vào ngân hàng Mỹ và thực hiện lệnh chuyển hàng triệu đô la sang tài khoản tại ngân hàng Israel, hay vụ tin tặc nổi đình đám xảy ra đúng vào ngày quốc khánh Mỹ 4/7/2009 khi harker tấn công vào một loạt trang web quan trọng của Mỹ và Hàn Quốc.
Việc phát tán và làm lây lan virus máy tính cũng là một nguy cơ rất lớn cho những người sử dụng internet, virus hiện nay ngày càng nhiều về số lượng, đa dạng về chủng loại và các hình thức xâm nhập, tấn công; thậm chí có những loại virus biến hình hoặc ẩn mình đến một thời điểm nào đó mới bùng phát nên rất khó phát hiện. Có những loại virus tấn công hàng triệu máy tính trên khắp thế giới, ví dụ: năm 2000, virus mang cái tên khá hấp dẫn “I love you” đã tấn công vào hàng loạt máy tính trên thế giới; năm 2003, virus Slammer lan truyền với vận tốc kỉ lục – khoảng 75.000 máy tính chỉ trong 10 phút.
Ngoài ra nguy cơ mất dữ liệu do hỏng phần cứng máy tính cũng là một mối đe dọa đối với người sử dụng.

5. Về Người sử dụng:
Để sử dụng internet, người dùng phải có một số kỹ năng nhất định, người không biết sử dụng sẽ khó khăn, thậm chí là không thể tiếp cận thông tin.
Trong quá trình tìm kiếm thông tin trên mạng, người sử dụng có thể sa đà vao các thông tin, gây “lạc hướng”, lãng phí thời gian. Cũng vì có quá nhiều thông tin, từ nhiều nguồn nên đòi hỏi người sử dụng phải biết sàng lọc, nếu không sẽ “bội thực” thông tin, tiếp nhận nhiều mà không hiệu quả, kiến thức rộng mà không sâu, không chuẩn xác.
Có một số người do quá ham mê Intenet và các ứng dụng của nó đã mắc chứng “nghiện net”, nếu sa đà vào các thông tin độc hại và môi trường ảo sẽ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tâm sinh lý, gây những tác động phụ mang tính tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày. Ví dụ: có người đã tử vong vì quá say mê trò chơi trực tuyến, có người tự tử vì những hệ lụy tâm lý, tình cảm từ thế giới ảo, có người phạm pháp do tiếp thu những những thông tin độc hại từ mạng… Rộng hơn, một số nhóm người, nhất là thế hệ trẻ có thể chạy theo những định hướng ngầm chưa hẳn đã đúng đắn, chuẩn mực và tích cực. Ví dụ: nhiều cô gái trẻ ngộ nhận về giá trị, sẵn sàng tạo scandal để mau nổi tiếng theo kiểu “đi tắt”; hoặc vì cái hư danh “hotgirl” mà ăn mặc hở hang, hành động phản cảm… từ đó lại tác động đến nhận thức của thế hệ trẻ hơn, khiến họ ngộ nhận về “độ nổi tiếng” và cái giá để được nổi tiếng như các đàn chị…

Tóm lại, Internet không chỉ mang lại những lợi ích khổng lồ mà còn đem đến những tác hại khôn kể, nó là con dao hai lưỡi mà để khai thác được mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, người sử dụng cần hết sức tỉnh táo và nhà quản lý cần có cái nhìn bao quát, sâu sắc, có cách xử lý mềm dẻo, khôn khéo và biện pháp quản lý chặt chẽ, hiệu quả.

H’Minh (nhóm 4-5)

About ptth29b

Lớp Phát thanh - Truyền hình K29B
This entry was posted in Bài tập. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s